Hồi âm PhotoHanoi’25
English version available here.
PhotoHanoi’25 (PH) đánh dấu lần thứ ba mình tham gia biennale này trong vai trò thành viên đội ngũ tổ chức/giám tuyển. Chính sự quen thuộc ấy đặt mình vào một vị thế không mấy dễ chịu, nhưng cần thiết, để viết phê bình về một sự kiện mà mình là một phần trong đó, và về chính sự tham gia của bản thân. Ở Việt Nam, phê bình công khai, đặc biệt trong các vòng tròn nghệ thuật và văn hoá, từ lâu đã được tiếp cận với nhiều dè dặt. Phê bình (kể cả khi mang tính xây dựng) thường dễ bị hiểu như một sự công kích cá nhân. Hệ quả là im lặng và chịu đựng trở thành phản xạ mặc định. Nét văn hoá này vô tình tạo ra một khoảng trống trong phê bình nghệ thuật nghiêm túc: nhiều sáng kiến được ca tụng, nhưng hiếm khi được xem xét đến nơi đến chốn. Vì thế, những thiếu sót (cả về tổ chức, giám tuyển hay nội dung) thường trôi qua mà không để lại một bài học lâu dài nào.
Chính từ trong bối cảnh ấy, mình cảm thấy cần phải viết. Nếu phê bình là điều khó khăn, thì đó là vì nó cần thiết. Thay vì nhìn từ bên ngoài, mình chọn bắt đầu từ chính những không gian và dự án mà mình đã tham gia, thừa nhận cả sự đồng lõa lẫn trách nhiệm của bản thân. Nhìn lại những điều chưa tốt, đặc biệt là những chi tiết nhỏ dễ bị bỏ qua, không phải là hành động truy tìm lỗi vặt, mà là một cử chỉ của sự quan tâm. Nếu thiếu đi sự tự vấn, tiến bộ rất dễ chỉ dừng ở bề mặt, còn “phát triển” thì được mặc nhiên thừa nhận chứ không thực sự đạt được.
Trong quá trình làm việc tại PH’25, điều khiến mình băn khoăn nhất là các triển lãm liên quan đến nhiếp ảnh lưu trữ, đặc biệt là tư liệu từ thời thuộc địa. Suy cho cùng, nhiếp ảnh du nhập vào Việt Nam là một phụ phẩm của quá trình thực dân hoá. Điều này càng trở nên quan trọng khi PH được tổ chức bởi Viện Pháp tại Việt Nam, và bởi các tổ chức văn hoá, dù thiện chí đến đâu, cũng không bao giờ vận hành bên ngoài lịch sử. Việc trưng bày ảnh thời thuộc địa mà không cung cấp đủ khung diễn giải, ngữ cảnh hay phản tư liệu không chỉ là một sự hời hợt trong giám tuyển; nó còn có nguy cơ tái hiện chính những cấu trúc quyền lực đã tạo ra các hình ảnh ấy ngay từ đầu. Lưu trữ thuộc địa chưa bao giờ là vô tội. Nó được xây dựng để quan sát, phân loại và cai trị. Và việc “làm đẹp” những quy trình đó là một cách lãng quên tính bạo lực vốn có của chúng. Mối quan ngại này nhiều lần trở thành điểm căng thẳng giữa mình và Viện Pháp. Các cuộc trao đổi tuy hữu ích, nhưng cũng không đi đến hồi kết. Làm thế nào để người xem vượt qua được vẻ đẹp thị giác và nhìn vào sự thật lịch sử? Cuối cùng, mình đã chấp nhận lùi lại. Mình chuyển sang viết và dịch các bài nghiên cứu về cách tiếp cận, diễn giải và trưng bày lưu trữ thuộc địa một cách có trách nhiệm – với hy vọng rằng khán giả (và cả những người tổ chức) có thể hiểu rõ hơn mình đang nhìn vào điều gì, và nhìn chúng bằng tư duy phản biện, thay vì tiếp nhận (hoặc tệ hơn là tôn vinh) chúng chỉ vì giá trị thẩm mỹ.
Trong cả mùa trước lẫn năm nay, PH đều có một (hoặc hai) triển lãm của các nhiếp ảnh gia châu Âu ghi lại Việt Nam trong thập niên 70, 80 và 90. Không thể phủ nhận đây là những tác phẩm có thẩm mỹ đẹp. Chúng mang tới sự hoài niệm qua những hạt bạc, những tông màu ấm, và một ký ức đủ xa để trở nên bồi hồi. Quan trọng hơn, chúng an toàn. An toàn để trưng bày, an toàn để tán dương, an toàn để đồng thuận. Nhưng sự an toàn, khi lặp lại đủ lâu, sẽ trở nên trì trệ. Việc liên tiếp trưng bày cùng một khuôn mẫu hình ảnh năm này qua năm khác không chỉ là không cần thiết, mà còn buồn tẻ. Sự lãng mạn hoá quá khứ dai dẳng này, dù có chủ ý hay không, đều để lại hệ quả. Nó cho phép cái nhìn quốc tế tiếp tục cố định Việt Nam trong những hình dung về chiến tranh, hậu chiến, hoặc một thời kỳ bao cấp được làm đẹp bởi khoảng cách thời gian. Trong bối cảnh đó, nhiếp ảnh đương đại Việt Nam trở thành thứ yếu, hoặc tệ hơn, vô hình. Đất nước chỉ được phép tồn tại như ký ức, chứ không phải như một thực thể đang sống.

Trong số 22 triển lãm tại PH’25, việc phân bổ nguồn lực cho các triển lãm dành cho nghệ sĩ địa phương tỏ ra thiếu hợp lý. Không ít nghệ sĩ tham gia là những cái tên quen thuộc, nhiều người đã xuất hiện ở các kỳ trước. Hai triển lãm cá nhân của nghệ sĩ Việt Nam đều thuộc về những người đồng thời đảm nhiệm vai trò nghệ sĩ và giám tuyển trong PH. Sự chồng chéo này đặt ra câu hỏi về khả năng tiếp cận và tính công bằng trong một biennale tự định vị mình là nền tảng trao đổi nhiếp ảnh rộng mở.
Với triển lãm nhóm, chỉ có hai triển lãm, Miền Trập và Thực hành nhiếp ảnh của những nghệ sĩ trẻ, là tập trung giới thiệu các thực hành nhiếp ảnh trong nước. Cả hai đều có sức thuyết phục về mặt ý niệm lẫn nghệ thuật. Tuy nhiên, Thực hành nhiếp ảnh của những nghệ sĩ trẻ, dù đầy tiềm năng, lại có chất lượng thấp do thiếu định hướng giám tuyển và hỗ trợ sản xuất. Việt Nam không thiếu nghệ sĩ trẻ, cũng không thiếu những thực hành mới mẻ và vững vàng. Trái lại, một thế hệ nghệ sĩ đang làm việc một cách nghiêm túc và đa dạng, thử nghiệm hình thức, đề tài và ngôn ngữ nhiếp ảnh để phản ánh đất nước trong hiện tại. Thế nhưng, quá thường xuyên, những thực hành này bị gạt sang bên lề bởi nỗi lo kiểm duyệt, trước cả khi chúng được đánh giá trên giá trị nghệ thuật.
“Giám tuyển” vẫn là một thuật ngữ và nghề nghiệp tương đối mới trong bối cảnh nghệ thuật Việt Nam, và ngày càng nhiều người mang danh xưng này mà chưa thực sự hiểu rõ trách nhiệm đi kèm. Tuy mình không được đào tạo về nghề giám tuyển, nhưng từ vị trí của một nghệ sĩ, mình có một hình dung khá rõ ràng về những gì có thể và nên kỳ vọng từ vai trò ấy. Trong mùa PH năm nay, khi làm việc ở tư cách nhà sản xuất và thiết kế triển lãm, mình đã rất thất vọng trước sự thiếu chuyên nghiệp của một giám tuyển mà mình cộng tác. Sự thiếu chuyên nghiệp này thể hiện ở hàng loạt khía cạnh: từ việc liên lạc thiếu rõ ràng; lơ là trong tư vấn cho nghệ sĩ nước ngoài về các vấn đề văn hoá nhạy cảm; bỏ qua những thiếu sót về cơ sở vật chất của không gian trưng bày; cho đến việc không hoàn thiện các giấy tờ cần thiết để xin giấy phép triển lãm đúng thời hạn. Thậm chí, ngay cả những công việc tối thiểu như biên tập hay dịch tuyên ngôn và tiểu sử nghệ sĩ cũng không được làm tới nơi tới chốn.
Công việc của giám tuyển không chỉ là chọn và mời. Đó còn là xây dựng chiến lược trưng bày phù hợp, hiểu tác phẩm cả về nội dung lẫn kỹ thuật, và lý giải vì sao chúng xứng đáng được trưng bày, vì sao chúng có ý nghĩa vượt ra ngoài trải nghiệm cá nhân của nghệ sĩ, và chúng kết nối với công chúng ra sao. Nếu thiếu đi vai trò trung gian này, triển lãm nghệ thuật rất dễ trở thành những cuộc đối thoại khép kín, chỉ có thể được hiểu bởi chính những người thực hành. Vậy mà khi biên tập các văn bản cho catalogue năm nay, mình nhiều lần rơi vào trạng thái bối rối trước lối viết rườm rà, nặng tính học thuật của một số nghệ sĩ và giám tuyển. Mình tôn trọng tính cá nhân trong văn bản nghệ thuật, nhưng khi cá nhân đến mức câu văn không còn chủ ngữ, vị ngữ rõ ràng; khi thuật ngữ mới được tạo ra mà không hề được giải thích; hay khi những khái niệm phức tạp được sử dụng mà không thực sự làm sáng tỏ điều gì, thì văn bản ấy không còn chức năng giao tiếp nữa. Nó bắt đầu trình diễn sự thông minh, thay vì truyền đạt ý nghĩa đến người đọc.
Trách nhiệm của giám tuyển (và có lẽ cả của nghệ sĩ) là xây dựng cầu nối giữa tác phẩm và công chúng: diễn giải và mời gọi sự tham gia. Khi điều đó được làm tốt, ngay cả những câu chuyện cá nhân, riêng tư nhất cũng có thể được thấu hiểu. Khi không làm được, gánh nặng “tìm cách hiểu” bị đặt không công bằng lên vai người xem, những người chưa bao giờ thực sự được mời bước vào.
Khi vai trò giám tuyển, nghệ sĩ và nhà tổ chức ở Việt Nam vẫn còn được định nghĩa lỏng lẻo, nhiều sự kiện nghệ thuật dễ trở thành “sân chơi” cá nhân của một nhóm nhỏ. Khi ranh giới mờ đi, khả năng tiếp cận cũng thu hẹp lại, và những cơ hội lẽ ra dành cho cộng đồng rộng hơn dần biến mất. Chính vì vậy, khi PH trở thành một sự kiện chính thức, mình đã đưa ra một quyết định cá nhân: nếu tham gia với tư cách giám tuyển, mình sẽ không còn là nghệ sĩ. Hai vai trò này đòi hỏi những trách nhiệm khác nhau, và việc đảm nhiệm đồng thời cả hai khiến quy trình không còn công bằng. Một biennale nghệ thuật không thể tự nhận là cởi mở và khách quan trong khi vẫn cho phép những người định hình nó đồng thời đặt mình vào trung tâm.

Tham gia PhotoHanoi từ mùa số không, mình đã nghe rất nhiều bình luận về việc biennale này là gì và nên trở thành gì. Một nhận định theo mình dai dẳng nhất là: “Việt Nam chưa sẵn sàng cho một biennale nhiếp ảnh.” Mình hiểu vì sao người ta nói vậy. Sau khi trải qua những khó khăn trong việc tổ chức PH, mình nghĩ rằng có thể họ nói đúng. Trong một bối cảnh văn hoá bị giới hạn bởi kiểm duyệt và những hạn chế trong tự do biểu đạt, việc tổ chức một festival nghệ thuật thực sự cởi mở, nơi nghệ sĩ có quyền kiểm soát cách tác phẩm của mình được trưng bày và phản ánh thẳng thắn các thực tại xã hội, là điều vô cùng khó khăn. Cộng thêm vào đó là những khoảng trống trong thẩm mỹ, kiến thức nhiếp ảnh, tiêu chuẩn sản xuất và phương thức làm việc của đội ngũ giám tuyển và tổ chức.
Nhưng, mình cũng đã chán sự thiếu vắng những không gian chính thức, nơi các dự án nhiếp ảnh có thể được chia sẻ, được xem, được nghiên cứu và tranh luận bởi công chúng rộng rãi. Chán vì phải tìm những xưởng in sẵn sàng in ảnh và làm sách “ngoài luồng”. Chán vì phải tổ chức triển lãm dưới vỏ bọc của “mở xưởng”. Và hơn hết, mình chán vì phải bươn ra phía bên kia đại dương để tìm kiếm sự công nhận. Những hình thức hoạt động nghệ thuật kể trên có thể là sự phản kháng cần thiết và tạo ra động lực tạm thời, nhưng chỉ phản kháng thôi thì không thể duy trì một nền nghệ thuật. Đến một thời điểm nào đó, nghệ sĩ cần những nền tảng chính thống, nơi tác phẩm có thể dễ dàng gặp gỡ đại chúng, thay vì mãi lưu hành bất tận trong một thế giới nghệ thuật nhỏ hẹp. Điều này càng đúng hơn với nhiếp ảnh, khi nhiều thực hành bắt nguồn từ đời sống thường nhật, từ những thực tại chung đáng được nhìn thấy vượt ra ngoài vòng tròn của người sáng tác.
Có thể Việt Nam sẽ không bao giờ hoàn toàn “sẵn sàng” cho một biennale nhiếp ảnh, ít nhất là theo những chuẩn mực lý tưởng. Nhưng các nhiếp ảnh gia Việt Nam và cộng đồng nhiếp ảnh thì đã sẵn sàng. Trong hơn một thập kỷ qua, một hệ sinh thái bền vững đã âm thầm hình thành: từ các câu lạc bộ trong trường phổ thông đến các chương trình cử nhân ở đại học; từ các không gian nhiếp ảnh độc lập và gallery nhỏ tới những nhà sưu tập ảnh dần xuất hiện; từ các xưởng in giclée đến phòng tối công cộng; từ những triển lãm địa phương khiêm tốn đến các festival nhiếp ảnh có khả năng kết nối quốc tế.
Đây là những điều, mà mười năm trước, mình không thể hình dung.
Nhưng giờ nó đã tồn tại. Và câu hỏi không còn là liệu Việt Nam đã “sẵn sàng” hay chưa, mà là liệu những người đang định hình nó, các đơn vị tổ chức, giám tuyển, nghệ sĩ, gallery và cộng đồng nhiếp ảnh, có sẵn sàng gánh lấy trách nhiệm củng cố, nâng đỡ và duy trì nó hay không.
Comments are Disabled